01
Yêu cầu đối với thông tin trình bày
Thông tin phải trung thực, hợp lý, đầy đủ, khách quan và không có sai sót. Đầy đủ là đủ để người đọc hiểu bản chất, hình thức và rủi ro của giao dịch. Khách quan là trung lập, không làm nghiêng thông tin theo hướng có lợi hay bất lợi cho người đọc. Không sai sót không có nghĩa là chính xác tuyệt đối: với một ước tính, báo cáo vẫn đạt yêu cầu nếu giải thích rõ bản chất và giới hạn của ước tính đó.
Thông tin phải hữu ích để người dùng dự đoán, phân tích và ra quyết định. Phải trình bày đầy đủ mọi khía cạnh trọng yếu. Phải kiểm chứng được, kịp thời và dễ hiểu. Phải nhất quán và so sánh được giữa các kỳ, giữa các doanh nghiệp; khi báo cáo đổi từ giả định hoạt động liên tục sang không liên tục hoặc ngược lại, doanh nghiệp thuyết minh tính chất, số liệu và lý do phân loại lại số so sánh.
Trọng yếu là mức mà bỏ sót hoặc sai làm báo cáo lệch đáng kể và ảnh hưởng quyết định kinh tế của người dùng, tùy quy mô, tính chất của khoản đó hoặc cả hai. Điều 19 không đưa ngưỡng phần trăm nào, nên doanh nghiệp tự đánh giá theo từng báo cáo và ghi lại căn cứ.
02
Nguyên tắc lập báo cáo của doanh nghiệp hoạt động liên tục
Điều 20 yêu cầu lập và trình bày theo Chuẩn mực kế toán số 21 và các chuẩn mực liên quan; thông tin trọng yếu phải giải trình đủ để người đọc hiểu đúng tình hình. Bốn nguyên tắc nền nằm ở đó.
Tôn trọng bản chất hơn hình thức: giao dịch được trình bày theo thực chất kinh tế, không theo tên gọi trên hợp đồng.
Tài sản chỉ được ghi tối đa bằng giá trị thu hồi được, nợ phải trả chỉ được ghi tối thiểu bằng nghĩa vụ phải thanh toán. Đây là gốc của việc trích lập dự phòng cuối kỳ.
Doanh thu, thu nhập và chi phí liên quan phải trình bày phù hợp với nhau và thận trọng. Báo cáo kết quả kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ chỉ phản ánh kỳ báo cáo.
Báo cáo kỳ trước có sai sót trọng yếu thì điều chỉnh hồi tố, cách làm ở bài điều chỉnh sai sót năm trước. Doanh nghiệp có đơn vị trực thuộc tổng hợp cả trụ sở và đơn vị, loại trừ số dư nội bộ và lãi lỗ chưa thực hiện từ giao dịch nội bộ.
03
Phân loại ngắn hạn và dài hạn
Tài sản được xếp ngắn hạn khi doanh nghiệp dự kiến thu hồi, bán hoặc dùng trong một chu kỳ kinh doanh thông thường, khi nắm giữ chủ yếu để kinh doanh, khi dự kiến thu hồi trong 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán, hoặc khi là tiền và tương đương tiền không bị hạn chế quá 12 tháng. Phần còn lại là dài hạn.
Nợ phải trả xếp ngắn hạn khi dự kiến thanh toán trong chu kỳ kinh doanh thông thường, khi nắm giữ chủ yếu vì mục đích kinh doanh, khi đến hạn trong 12 tháng, hoặc khi doanh nghiệp không có quyền từ chối thanh toán khoản vay vào bất kỳ lúc nào trong 12 tháng. Một ngoại lệ hay bị bỏ sót: các khoản phải trả là một phần vốn lưu động trong chu kỳ kinh doanh, như phải trả người bán và chi phí phải trả nhân viên, luôn là nợ ngắn hạn kể cả khi hạn thanh toán trên 12 tháng.
Ví dụ: công ty có khoản vay 1.200 triệu đồng, lịch trả gốc cho 12 tháng tới là 400 triệu, các năm sau 800 triệu. Báo cáo tình hình tài chính ghi 400 triệu ở nợ vay ngắn hạn và 800 triệu ở nợ vay dài hạn. Sang kỳ sau, khi phần 800 triệu có 300 triệu đến hạn trong 12 tháng, doanh nghiệp phải tái phân loại 300 triệu từ dài hạn sang ngắn hạn. Còn khoản phải trả nhà cung cấp 300 triệu theo hợp đồng thanh toán sau 15 tháng thì vẫn là nợ ngắn hạn, vì nó nằm trong vốn lưu động.
Doanh nghiệp được chọn phân loại theo chu kỳ kinh doanh thông thường thay cho mốc 12 tháng, nhưng khi đó phải thuyết minh, theo từng chỉ tiêu, phần giá trị thu hồi hoặc thanh toán trong và sau 12 tháng. Chu kỳ kinh doanh không xác định rõ thì coi là 12 tháng. Sau ngày kết thúc kỳ, sự kiện như gia hạn nợ ngắn hạn thành dài hạn không làm đổi cách phân loại cuối kỳ; xem bài sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ.
04
Khi nào được bù trừ
Tài sản và nợ phải trả trình bày riêng. Chỉ bù trừ khi cả bốn điều kiện cùng thỏa: liên quan cùng một đối tượng, vòng quay nhanh, thời gian đáo hạn ngắn, phát sinh từ giao dịch và sự kiện cùng loại.
Ví dụ: công ty bán hàng cho đơn vị A, còn phải thu 100 triệu; cũng mua nguyên liệu của A, còn phải trả 60 triệu. Hai khoản đều do một đối tượng, đáo hạn ngắn, nhưng một khoản là bán, một khoản là mua, nên không cùng loại giao dịch: báo cáo ghi phải thu 100 triệu và phải trả 60 triệu, không ghi 40 triệu. Cách bù trừ công nợ trên sổ nằm ở bài bù trừ công nợ.
05
Thông tư 133 khác ở đâu
Thông tư 133 cũng yêu cầu bản chất hơn hình thức, giá trị thu hồi, nợ phải trả và bù trừ cùng đối tượng, nhưng có điểm khác. Báo cáo tình hình tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa trình bày theo tính thanh khoản giảm dần hoặc chia ngắn hạn, dài hạn (doanh nghiệp được chọn mẫu B01a hoặc B01b), riêng doanh nghiệp siêu nhỏ trình bày theo tính thanh khoản giảm dần. Về sai sót kỳ trước, Thông tư 133 viết rằng báo cáo lại ở cột so sánh, còn doanh nghiệp siêu nhỏ sửa vào kỳ phát hiện. Bộ báo cáo của từng chế độ nằm ở bài báo cáo tài chính gồm những gì, còn nguyên tắc kế toán nền ở bài nguyên tắc kế toán cơ bản.
06
Làm trên KetoanX
Phân loại ngắn hạn, dài hạn trên báo cáo tình hình tài chính đặt ở Báo cáo, Thiết lập báo cáo tài chính, còn việc chỉ tiêu nào lấy số từ tài khoản nào thì xem và sửa ở Báo cáo, Thiết lập, kiểm tra công thức chỉ tiêu BCTC. Hai màn này không ghi bút toán nào, chỉ đổi cách số dư lên báo cáo.

Các bước
Mở Báo cáo, Thiết lập báo cáo tài chính. Thẻ Tách ngắn hạn, dài hạn có bảng ba cột Nhóm (tại ngày …), Số dư, Trong đó dài hạn; nhóm nào ghi chưa tách là nhóm có số dư mà phần mềm chưa có kỳ hạn và bạn chưa khai tỷ lệ, nên đang nằm hết ở ngắn hạn (riêng góp vốn 2281 và đầu tư khác 2288 mặc định là dài hạn).
Khoản vay 1.200 triệu trong ví dụ không khai ở đây. Bạn lập khế ước ở Quỹ, ngân hàng, Vay và lịch trả nợ với lịch trả gốc; phần mềm lấy các kỳ gốc đến hạn trong 12 tháng kể từ ngày báo cáo (gồm cả kỳ quá hạn chưa trả) làm ngắn hạn, tức 400 triệu, phần còn lại 800 triệu là dài hạn. Dòng
Vay và nợ thuê tài chính (341, 343)trong bảng tỷ lệ chỉ áp cho dư nợ không gắn khế ước.Bảng Nhóm khoản mục có ô Phần trăm dài hạn cho từng nhóm mà mẫu của chế độ đang dùng có chỉ tiêu tương ứng; với công ty Thông tư 99 là từ
Phải thu của khách hàng (dư Nợ 131)đếnCổ phiếu ưu đãi phân loại là nợ phải trả (41112), gồm cả phải thu, phải trả nội bộ, phải thu khác, phải trả khác, thuế phải nộp dài hạn và các phần dự phòng. Các nhóm đứng sau nhóm 154 chỉ tách khi bạn khai; chưa khai thì báo cáo trình bày như trước. Ô để trống hiện chữ chưa khai; nhập số từ 0 đến 100, ngoài khoảng đó phần mềm báo Tỷ lệ từ 0 đến 100. Khoản phải trả người bán 300 triệu của ví dụ là vốn lưu động nên đểPhải trả người bán (dư Có 331)trống hoặc 0, và trên chứng từ mua đừng đặt Hạn nợ quá 12 tháng (lý do ở phần giới hạn). Bấm Lưu tỷ lệ theo tài khoản, thành công thì hiện Đã lưu tỷ lệ dài hạn.Một khách hay một nhà cung cấp cần tỷ lệ khác cả tài khoản thì dùng khung
Tỷ lệ riêng theo đối tượng công nợ: ô Nhóm chỉ có bốn nhóm công nợ 131, 331 (hai phía dư Nợ, dư Có), ô Đối tượng bắt buộc chọn, ô Phần trăm dài hạn bắt buộc nhập, rồi bấm Thêm. Dòng đã khai có nút Bỏ để trả về tỷ lệ của tài khoản.Năm đầu dùng phần mềm, cột so sánh lấy từ thẻ Số liệu năm trước nhập tay: chọn báo cáo (ví dụ
Bảng cân đối kế toán (B01): số cuối năm trước), ô Năm của số liệu ghi 2025 rồi bấm Mở, nhập từng mã số và bấm Lưu số năm trước, hoặc nạp tệp ở ôNhập từ tệp Excel (.xlsx: cột A mã số, cột B số tiền)với nút Nhập tệp. Số vay năm trước cũng nhập vào đúng hai mã ngắn hạn, dài hạn để hai cột cùng một cách phân loại.Mở Báo cáo, Thiết lập, kiểm tra công thức chỉ tiêu BCTC, ô Tại ngày chọn 31/12/2026 rồi bấm Kiểm tra. Thẻ Kết quả kiểm tra có năm dòng: tổng tài sản trừ tổng nguồn vốn, tài khoản có số dư chưa vào chỉ tiêu nào hoặc dư ngược chiều, lợi nhuận trước thuế so với phát sinh loại 5 đến 8, tài khoản không nằm trong công thức nào, và tài khoản dùng ở nhiều chỉ tiêu.
Muốn đổi nguồn số của một chỉ tiêu chi tiết, ở thẻ Thiết lập công thức chọn ô Chỉ tiêu, gõ ô Công thức (mẫu gợi ý +131 -1311; N là dư Nợ, C là dư Có, PN, PC là phát sinh chỉ dùng cho B02) rồi bấm Lưu công thức. Nút
Khôi phục mặc định chỉ tiêu nàyvà Khôi phục tất cả trả về công thức theo mẫu.
Phần mềm tự ghi gì
Không có bút toán nào sinh ra: tỷ lệ, số năm trước và công thức chỉ đổi cách trình bày trên Bảng cân đối kế toán, báo cáo giữa niên độ, bản Excel và tệp XML. Với khoản vay ví dụ, chỉ tiêu vay ngắn hạn nhận 400 triệu, vay dài hạn nhận 800 triệu, sổ cái 341 vẫn một số dư 1.200 triệu. Phải thu 100 triệu và phải trả 60 triệu của đơn vị A lên hai chỉ tiêu riêng, vì phải thu lấy dư Nợ theo từng đối tượng của 131, phải trả lấy dư Có của 331; phần mềm không tự bù trừ hai tài khoản.
Công thức sửa không áp cho chỉ số tài chính và tờ khai thuế, hai chỗ này vẫn đọc công thức mặc định. Báo lỗi hay gặp khi sửa công thức: Tài khoản … không có trong hệ thống tài khoản của công ty khi gõ tài khoản chưa mở; Chỉ tiêu B01 lấy số dư; dùng N, C hoặc Nợ trừ Có, không dùng phát sinh (PN, PC); Không sửa được chỉ tiêu … với dòng tổng và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, vì các dòng này khóa theo mẫu.
Kiểm lại và giới hạn
Mở Báo cáo, Bảng cân đối kế toán tại 31/12/2026 để thấy 400 triệu và 800 triệu ở hai chỉ tiêu vay; dòng ghi chú dưới báo cáo liệt kê nhóm nào còn đang xếp ngắn hạn vì chưa có dữ liệu kỳ hạn, và nhóm nào có phần theo tỷ lệ do người dùng khai, không tính từ dữ liệu chi tiết. Màn kiểm tra công thức cho thấy dư Nợ, dư Có của các tài khoản trong từng chỉ tiêu để bạn đối chiếu với số trên báo cáo.
Phần mềm tách công nợ theo Hạn nợ của chứng từ còn nợ: chứng từ có hạn sau 12 tháng tự xếp dài hạn và tỷ lệ khai không ghi đè được phần này. Nó chưa nhận ra ngoại lệ vốn lưu động của Thông tư 99, nên khoản phải trả người bán 300 triệu hạn 15 tháng sẽ lên nợ dài hạn nếu chứng từ mua mang hạn ấy; muốn trình bày ngắn hạn thì để trống Hạn nợ của chứng từ đó (khi ấy báo cáo tuổi nợ không còn theo dõi hạn của nó). Tỷ lệ dài hạn chỉ áp cho phần không có kỳ hạn trong dữ liệu, nên khoản nào đã có kỳ hạn thì phải nhập đúng ở chứng từ, khế ước hay thẻ phân bổ. Với chế độ Thông tư 133 (mẫu B01a-DNN) và hợp tác xã, mẫu không tách ngắn hạn, dài hạn nên các tỷ lệ này không dùng cho hai mẫu ấy; công ty Thông tư 133 lập mẫu B01b-DNN thì có dùng. Đánh giá trọng yếu và quyết định bù trừ vẫn do kế toán. Sau phần này bạn sang bài lập báo cáo tình hình tài chính để lấy số cho từng chỉ tiêu; mốc nộp ở bài hạn nộp báo cáo tài chính năm 2026.
Cách nhập từng ô và các trường hợp khác của màn này có đủ trong bài hướng dẫn sử dụng thiết lập báo cáo tài chính.
07
Câu hỏi hay gặp
Ba chỗ kế toán hay lưỡng lự: ngưỡng trọng yếu, chu kỳ dài và nợ người bán quá 12 tháng.
Trọng yếu là bao nhiêu phần trăm?
Thông tư 99 không nêu phần trăm. Doanh nghiệp đánh giá theo quy mô và tính chất của khoản đó so với báo cáo, và ghi lại căn cứ để người ký báo cáo chịu trách nhiệm.
Chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì làm sao?
Doanh nghiệp có chu kỳ dài (ví dụ xây dựng công trình nhiều năm) được phân loại theo chu kỳ kinh doanh thông thường, nhưng phải thuyết minh giá trị dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong 12 tháng và trên 12 tháng cho từng chỉ tiêu.
Phải trả người bán hạn trên 12 tháng có chuyển sang dài hạn không?
Không, nếu khoản đó là một phần vốn lưu động dùng trong chu kỳ kinh doanh. Thông tư 99 yêu cầu phân loại ngắn hạn cho các khoản phải trả như vậy.
Bài liên quan
Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính gồm những gì, mẫu nào
Theo Thông tư 99, báo cáo tài chính năm gồm báo cáo tình hình tài chính (B01-DN), báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (B02-DN), báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03-DN) và thuyết minh (B09-DN), nộp trong 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Nhập môn và nguyên tắc
Nguyên tắc kế toán cơ bản và 26 chuẩn mực kế toán
Bảy nguyên tắc kế toán cơ bản là dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng và trọng yếu, ghi trong Chuẩn mực kế toán số 01.
Báo cáo tài chính
Cách lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu B02-DN) lấy số từ phát sinh trong kỳ của các tài khoản loại 5 đến 8, không lấy số dư: doanh thu từ 511, giá vốn từ 632, chi phí từ 635, 641, 642, thuế TNDN từ 8211 và 8212.
Dùng thử trên sổ của chính bạn
Đăng ký mất vài phút, không cần thẻ thanh toán. Mọi chức năng đều miễn phí.