01
Công thức hai cách
Cuối kỳ: đơn giá bình quân cả kỳ = (giá trị tồn đầu kỳ + giá trị nhập trong kỳ) / (số lượng tồn đầu kỳ + số lượng nhập trong kỳ). Giá trị xuất bằng đơn giá đó nhân số lượng xuất của cả kỳ. Chỉ chốt được khi hết kỳ, nên trong tháng phiếu xuất tạm ghi một giá ước tính.
Tức thời: sau mỗi lần nhập, đơn giá mới = (giá trị đang tồn + giá trị lô vừa nhập) / (số lượng đang tồn + số lượng lô vừa nhập). Mỗi lần xuất lấy đơn giá hiện có. Biết ngay giá vốn từng phiếu xuất, nhưng phải tính lại sau mỗi lần nhập, kể cả khi bạn sửa một phiếu nhập cũ.
Thông tư 99 mô tả giá trung bình tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô nhập, tùy điều kiện doanh nghiệp. Bạn chọn một kiểu cho từng mặt hàng và giữ nhất quán; nguyên tắc chung ở bài nguyên tắc kế toán hàng tồn kho.
02
Ví dụ từng bước: bình quân cuối kỳ
Dùng số liệu của bài phương pháp tính giá xuất kho: tồn đầu 100 cái giá 10.000 đồng (1.000.000), nhập 05/10 200 cái giá 11.000 đồng (2.200.000), nhập 18/10 100 cái giá 12.000 đồng (1.200.000). Xuất 150 cái ngày 12/10 và 200 cái ngày 25/10.
Tổng giá trị: 1.000.000 + 2.200.000 + 1.200.000 = 4.400.000 đồng.
Tổng số lượng: 100 + 200 + 100 = 400 cái.
Đơn giá bình quân: 4.400.000 / 400 = 11.000 đồng.
Giá trị xuất: 350 cái × 11.000 = 3.850.000 đồng.
Tồn cuối: 50 cái × 11.000 = 550.000 đồng, và 3.850.000 + 550.000 = 4.400.000.
Bút toán ghi giá vốn hàng bán (bài tài khoản 632 nói đủ về tài khoản này) tháng 10: Nợ 632, Có 156 3.850.000 đồng. Ngày 12/10 và 25/10, phiếu xuất ghi tạm theo một giá ước tính, đến cuối tháng điều chỉnh về 11.000 đồng.
Nếu bạn ghi tạm bằng một giá cố định, Thông tư 99 hướng dẫn dùng hệ số chênh lệch: hệ số = giá thực tế của tồn đầu và nhập kỳ / giá tạm tính của tồn đầu và nhập kỳ; giá thực tế hàng xuất = giá tạm tính hàng xuất × hệ số. Giả sử giá tạm tính 10.500 đồng: giá tạm tính của 400 cái là 4.200.000 đồng, hệ số = 4.400.000 / 4.200.000 xấp xỉ 1,0476, giá tạm tính của 350 cái xuất là 3.675.000 đồng, giá thực tế = 3.675.000 × 4.400.000 / 4.200.000 = 3.850.000 đồng, khớp kết quả trên.
03
Ví dụ từng bước: bình quân tức thời
| Ngày | Nghiệp vụ | Số lượng | Giá trị | Tồn sau nghiệp vụ |
|---|---|---|---|---|
| 01/10 | Tồn đầu | 100 | 1.000.000 | 100 cái, 1.000.000, đơn giá 10.000 |
| 05/10 | Nhập 200 cái giá 11.000 | 200 | 2.200.000 | 300 cái, 3.200.000, đơn giá 10.666,67 |
| 12/10 | Xuất 150 cái | 150 | 1.600.000 | 150 cái, 1.600.000 |
| 18/10 | Nhập 100 cái giá 12.000 | 100 | 1.200.000 | 250 cái, 2.800.000, đơn giá 11.200 |
| 25/10 | Xuất 200 cái | 200 | 2.240.000 | 50 cái, 560.000 |
Ngày 05/10 đơn giá mới là 3.200.000 / 300 = 10.666,67 đồng. Ngày 12/10 giá xuất = 150 × 3.200.000 / 300 = 1.600.000 đồng; nên tính theo giá trị chia số lượng, đừng nhân với đơn giá đã làm tròn để khỏi lẻ vài đồng. Ngày 18/10 đơn giá = (1.600.000 + 1.200.000) / (150 + 100) = 11.200 đồng. Ngày 25/10 giá xuất = 200 × 11.200 = 2.240.000 đồng.
Tổng giá vốn tháng = 1.600.000 + 2.240.000 = 3.840.000 đồng, tồn cuối 560.000 đồng; cộng lại 4.400.000 đồng. Bút toán hai phiếu xuất: Nợ 632, Có 156 1.600.000 đồng ngày 12/10 và 2.240.000 đồng ngày 25/10.
04
Hai cách khác nhau khi nào
Ở ví dụ, bình quân cuối kỳ cho giá vốn 3.850.000 đồng, bình quân tức thời 3.840.000 đồng, lệch 10.000 đồng. Lần xuất ngày 12/10 xảy ra trước khi lô giá 12.000 đồng về, nên tức thời không gánh giá lô đó, còn cuối kỳ thì có. Giá nhập đứng yên thì hai cách trùng nhau. Nếu mọi lần xuất đều xảy ra sau lần nhập cuối tháng, tức thời dùng đúng đơn giá bình quân cả kỳ và hai cách cho cùng kết quả.
Chọn cuối kỳ khi bạn chỉ cần giá vốn tháng và chấp nhận giá tạm trong tháng. Chọn tức thời khi cần biết lãi gộp theo từng đơn hàng ngay, hoặc kiểm soát giá bán so với giá vốn lúc báo giá.
05
Những chỗ hay sai
Tính đơn giá cho từng kho riêng khi doanh nghiệp quyết định tính chung, hoặc ngược lại. Làm tròn đơn giá bình quân sớm: 10.666,67 đồng nhân 150 cái ra 1.600.000,5, và sai số cộng dồn qua nhiều phiếu. Cho hàng bán bị trả lại nhập kho theo đơn giá bình quân hiện tại thay vì trị giá vốn của lần bán. Sửa phiếu nhập cũ mà không tính lại các phiếu xuất sau nó. Và để tồn âm: xuất hàng chưa nhập thì đơn giá bình quân không xác định, phải xử lý như ở bài tồn kho bị âm trên sổ sách.
06
Làm trên KetoanX
Hai cách bình quân chọn và chạy ở cùng một màn, Kho, Tính giá xuất kho: ô Phương pháp tính giá xuất kho chọn Bình quân cuối kỳ hoặc Bình quân tức thời (sau mỗi lần nhập), rồi bấm Tính lại giá xuất kho cho tháng. Với số liệu của bài, cuối kỳ cho giá vốn tháng 10 là 3.850.000 đồng, tức thời cho 3.840.000 đồng. Từng ô của màn còn được giải thích ở bài hướng dẫn tính giá xuất kho.

Các bước
Ghi sổ đủ các chứng từ của ví dụ: tồn đầu kỳ 100 cái giá 10.000, nhập 05/10 200 cái giá 11.000, nhập 18/10 100 cái giá 12.000, xuất 12/10 150 cái, xuất 25/10 200 cái. Chứng từ chưa ghi sổ không tham gia tính. Trên phiếu xuất, giá lấy theo phương pháp đang chọn tại ngày xuất lúc cất phiếu, nên con số chốt chỉ có sau bước tính lại.
Vào Kho, Tính giá xuất kho, khối Phương pháp tính giá xuất. Ô Phương pháp tính giá xuất kho mặc định Bình quân cuối kỳ; ô Phạm vi tính mặc định Toàn công ty, một đơn giá chung cho mọi kho, còn Theo từng kho cho mỗi kho một đơn giá riêng. Đổi xong bấm Lưu cài đặt (nút chỉ sáng khi bạn đã đổi, và chỉ chủ sở hữu hoặc quản trị viên đổi được).
Khối Tính lại theo tháng: ô Kỳ chọn 10/2026, bấm Tính lại giá xuất kho. Đơn giá tháng (1.000.000 + 2.200.000 + 1.200.000) / 400 = 11.000, hai phiếu xuất thành 1.650.000 và 2.200.000, cộng 3.850.000, tồn cuối 550.000.
Dưới nút hiện dòng
Đã tính lại giá xuất kho tháng 10/2026: cập nhật … chứng từ (…), … mặt hàng. Bấm lần nữa khi số đã đúng thì báo giá xuất kho đã đúng theo bình quân cuối kỳ, không có chứng từ nào cần cập nhật.Để so với cách kia, đổi ô phương pháp sang
Bình quân tức thời (sau mỗi lần nhập), Lưu cài đặt, chạy lại kỳ 10/2026. Phiếu 12/10 ra 1.600.000, phiếu 25/10 ra 2.240.000, cộng 3.840.000, tồn cuối 560.000. Phần mềm lấy giá trị chia số lượng rồi mới làm tròn đến đồng nên 150 cái ra đúng 1.600.000, không lệch như khi nhân với 10.666,67. Xem xong thì chọn lại phương pháp thật của công ty, vì đổi giữa năm phải có lý do.Nhiều tháng thì chạy từ tháng cũ đến tháng mới, vì tồn đầu tháng sau lấy từ tháng trước. Chỉ cần một nhóm hàng hay vài mặt hàng thì dùng khối
Tính lại cho một khoảng ngày, một nhóm hàngvới Từ ngày, Đến ngày, Nhóm hàng vàChỉ các mặt hàng (bỏ trống là mọi mặt hàng); bình quân cuối kỳ buộc chọn tròn tháng.Với bình quân tức thời, hai chứng từ cùng ngày đổi thứ tự sẽ đổi giá. Mở Kho, Thứ tự chứng từ trong ngày, chọn ngày, bấm Xem, đưa dòng lên xuống rồi Lưu thứ tự, sau đó tính lại.
Phần mềm tự ghi gì
Tính lại không tạo bút toán mới mà sửa giá trị các dòng xuất trên sổ kho và bút toán giá vốn của chứng từ bán, phiếu xuất, hàng bán trả lại. Với ví dụ, mỗi phiếu xuất là Nợ 632, Có 156: cuối kỳ 1.650.000 và 2.200.000, tức thời 1.600.000 và 2.240.000; kho có tài khoản riêng như 157 thì Có tài khoản đó. Chế độ Thông tư 133 cũng dùng cặp 632, 156 này. Mỗi lần chạy để lại một dòng ở bảng Các lần tính gần đây (cột Kỳ, Số, Kết quả lần chạy gần nhất, Chạy lúc), không có bút toán.
Báo lỗi hay gặp: Bình quân cuối kỳ tính theo tròn tháng: chọn từ ngày đầu tháng đến ngày cuối tháng khi khoảng ngày lẻ; Kỳ 10/2026 đã khóa sổ (sổ khóa đến ngày …), không tính lại giá xuất kho được khi tháng đã khóa; Chỉ chủ sở hữu hoặc quản trị viên được đổi phương pháp tính giá xuất kho khi tài khoản không đủ quyền.
Kiểm lại và giới hạn
Mở Kho, Tổng hợp nhập xuất tồn hoặc Kho, Tồn kho để thấy giá trị tồn cuối, và Kho, Đối chiếu kho với sổ cái để so với tài khoản 156. Sửa hoặc xóa phiếu nhập sau khi đã có phiếu xuất thì đầu màn hiện khung Giá xuất kho cần tính lại từ ngày ….
Có ba giới hạn. Phần mềm không có bước đặt giá tạm tính cố định rồi nhân hệ số chênh lệch như Thông tư 99 mô tả: giữa tháng phiếu xuất mang giá theo phương pháp tại ngày xuất, cuối tháng tính lại cho ra cùng 3.850.000, nên số cuối khớp nhưng bạn không thấy hệ số 1,0476. Phương pháp là một cài đặt chung cho cả công ty, không chọn riêng từng mặt hàng; mặt hàng cần cách khác phải tính tay. Kỳ đã khóa sổ không tính lại được. Chức năng thuộc phần kho của KetoanX; bài sau là nhập trước xuất trước.
Cách nhập từng ô và các trường hợp khác của màn này có đủ trong bài hướng dẫn sử dụng tồn kho.
Bài liên quan
Hàng tồn kho
Nguyên tắc kế toán hàng tồn kho
Hàng tồn kho là tài sản mua vào để sản xuất hoặc để bán trong kỳ kinh doanh bình thường, ghi theo giá gốc.
Hệ thống tài khoản
Tài khoản 632 giá vốn hàng bán, Thông tư 99
Tài khoản 632 ghi trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ, cộng một số khoản phải tính thẳng vào giá vốn như dự phòng giảm giá hàng tồn kho, hao hụt mất mát và chi phí sản xuất vượt mức bình thường.
Hàng tồn kho
Cách tính giá nhập kho và phân bổ chi phí
Giá nhập kho bằng giá mua chưa thuế GTGT được khấu trừ, cộng thuế không được hoàn lại (nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, bảo vệ môi trường, GTGT không khấu trừ được) và chi phí đưa hàng về kho như vận chuyển, bốc xếp, bảo hiểm, trừ chiết khấu thương mại và giảm giá.
Dùng thử trên sổ của chính bạn
Đăng ký mất vài phút, không cần thẻ thanh toán. Mọi chức năng đều miễn phí.